Loading...

THÔNG BÁO

Công Ty TNHH Công Nghệ TEGOX trân trọng thông báo đến quý khách hàng - đối tác về thời gian du lịch nghỉ dưỡng năm 2020 của chúng tôi

 

THỜI GIAN NGHỈ DƯỠNG

Từ thứ 7

19-09-2020

Đến Thứ 3

22-09-2020

Thời gian làm việc lại: Thứ 4, ngày  23-09-2020

CÔNG NGHỆ NANO: MỘT GIẢI PHÁP THAY THẾ ĐẦY HỨA HẸN ĐỂ KIỂM SOÁT MẦM BỆNH SAU THU HOẠCH TRONG TRÁI CÂY

Ngày:
28/07/2020

Lượt xem:

86

CÔNG NGHỆ NANO: MỘT GIẢI PHÁP THAY THẾ ĐẦY HỨA HẸN ĐỂ KIỂM SOÁT MẦM BỆNH

SAU THU HOẠCH TRONG TRÁI CÂY

Trái cây và rau quả rất quan trọng do giá trị dinh dưỡng và nhiều lợi ích cho sức khỏe. Tuy nhiên chúng bị phơi nhiễm với nấm không chỉ trên cánh đồng mà còn ở giai đoạn sau thu hoạch gây thiệt hại kinh tế đáng kể (Liu et al. 2018). Vì thế bảo quản sau thu hoạch trái cây rất quan trọng. Trong hoàn cảnh ở nhiều quốc gia việc sử dụng thuốc diệt nấm bằng hóa chất là cách phổ biến để kiểm soát bệnh sau thu hoạch. Tuy nhiên việc sử dụng chúng quá mức dẫn đến các vấn đề về môi trường, kháng nấm và vấn đề sức khỏe (Sharma et al. 2009). Ngày nay, các vấn đề môi trường và sức khỏe cũng như sự ưa thích của người tiêu dùng đối với các sản phẩm không chứa dư lượng hóa chất dẫn đến việc phát triển các chiến lược mới để kiểm soát bệnh hại (Singh and Sharma 2018).

Công nghệ nano là một sự thay thế đầy hứa hẹn để kiểm soát bệnh sau thu hoạch. Vật liệu nano có thể kết hợp với các hệ thống kiểm soát khác như tinh dầu và chitosan. Mục tiêu của bài viết này là tóm tắt thông tin về việc sử dụng và ứng dụng công nghệ nano trên một số loại trái cây cũng như mầm bệnh gây thiệt hại kinh tế quan trọng ở giai đoạn sau thu hoạch.

Trong thập kỷ vừa qua, ngành trồng trọt đã có nhiều thay đổi trong phạm vi quốc tế, bao gồm chuyển sang thị trường trồng trọt trên toàn cầu và bùng nổ ngành công nghiệp trồng trọt ở nhiều nước đang phát triển. Trái cây và rau quả sẽ đóng vai trò quan trọng nhờ cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu cho chế độ ăn uống của con người ở các nước phát triển và đang phát triển (Organization 2003).

Sản xuất và thương mại trái cây rau quả đang tăng lên, sản lượng toàn cầu gần 1 tỷ tấn (Organization 2003). Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil chiếm khoảng 30% tổng sản lượng trái cây trên toàn thế giới, Mexico đứng thứ 6 trong các quốc gia sản xuất trái cây nhưng phần lớn tiêu dùng nội địa nên không tác động nhiều đến thị trường thế giới (Organization 2012). Những nỗ lực quan trọng được thực hiện để cải thiện năng suất cây trồng và chế biến thực phẩm từ thực vật để tăng giá trị thị trường của chúng, tuy nhiên những tác động đối với tổn thất sau thu hoạch do bệnh thực vật chưa được giải quyết đầy đủ.

Ở châu Á có sự phục hồi nhanh chóng trong ngành công nghiệp trồng trọt, với Trung Quốc và Ấn Độ trở thành nhà sản xuất chính. Về phần Liên minh Châu Âu, việc mở rộng thị trường đang có những ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà sản xuất rau quả cả ở những nước thành viên mới và các nước cũ. Sự phát triển tương tự đang xảy ra ở Nam Mỹ và Châu Phi. Trên tất cả các châu lục có một xu hướng chung hướng tới gia tăng số lượng các nhà sản xuất trái cây và rau củ, amng vai trò càng ngày càng quan trọng đối với các siêu thị và tập trung vào bán lẻ (FAO 2018). Những phát triển này lan rộng khắp hành tinh và gây ra hậu quả cho việc kiểm soát mầm bệnh và các loài xâm lấn (Gustauson et al. 2012).

Trong quá trình xử lý sau thu hoạch rau quả, tổn thất dao động từ 25-60% tổng sản lượng. Điều này do một số yếu tố nhưng một trong số những điều quan trọng nhất là việc xử lý sai, trong đó thiệt hại do cơ học và các bệnh gây ra bởi mầm bệnh đóng vai trò quan trọng (Janisiewicz and Korsten 2002). Ngày nay việc sử dụng thuốc diệt nấm hóa học được sử dụng rộng rãi như một chiến lược để kiểm soát mầm bệnh sau thu hoạch. Tuy nhiên ngay cả khi chúng có hiệu quả, tác động lên môi trường của các phương pháp này rất tiêu cực vì chúng rất độc hại (Droby et al. 2002). Do đó cần phát triển các lựa chọn thay thế thân thiện với môi trường, có hiệu quả đối với một loạt các loại cây trồng khác nhau.

Phương pháp vật lý

Các phương pháp xử lý bằng vật lý là một trong những phương pháp quan trọng để kiểm soát các bệnh sau thu hoạch, do tác động đến môi trường là tối thiểu. Các phương pháp điều trị thủy nhiệt thường được áp dụng nhiều nhất, kỹ thuật này bao gồm việc ngâm trái cây trong một thời gian ngắn với nhiệt độ ức chế mầm bệnh (Usall et al. 2016a). Những kỹ thuật này được khuyến nghị cho cây trồng hữu cơ hoặc tuân thủ thị trường đòi hỏi xử lý ít nhất có thể hoặc không xử lý với hóa chất (Wisniewski et al. 2016).

Việc sử dụng các phương pháp xử lý vật lý đã được sử dụng thành công trên nhiều loài trái cây khác nhau như đào và táo (ngâm với nước nóng) (Liu et al. 2012; Spadoni et  al. 2014; Spadoni et al. 2015), táo (rửa với nước nóng) (Maxin et al. 2012), bưởi (chải nước nóng) (Pavoncello et al. 2001), anh đào (xử lý không khí nóng) (Wang et al. 2015), và nho (xử lý nhiệt bằng hơi) (Lydakis và Aked 2003) chống lại một số loại nấm như Penicillium và Botrytis. Một chiến lược khác là kho lạnh, rất hiệu quả để trì hoãn sự chín của trái cây cũng như nhiễm nấm. Tuy nhiên phương pháp này không được xem là kháng nấm vì nó chỉ làm chậm lại quá trình lão hóa của sản phẩm để tránh trái cây suy yếu trước sự xâm nhập của mầm bệnh (Usall et al. 2016b).

Điều quan trọng cần đề cập là phương pháp xử lý bằng vật lý có thể được với các phương pháp để tăng cường hiệu quả kiểm soát các bệnh sau thu hoạch. Theo cách này một trong các nghiên cứu gần đây, phương pháp xử lý canxi chlorua thủy nhiệt đã được sử dụng để ức chế bệnh thán thư thành công trên quả đu đủ (Ayón-Reyna et al. 2017). Trong một nghiên cứu khác, chất lượng trái cây cũng như giảm bệnh do Colletotrichum gloeosporioides được giảm xuống khi xử lý kết hợp nước nóng ở 47°C (4 hoặc 5 phút) và ứng dụng phosphite của K hoặc Zn (Dutra et al. 2018).

Bên cạnh đó các chất kháng sinh có thể được kết hợp với cộng nghệ khác như xử lý nhiệt, điều này mang đến một phương pháp xử lý tương thích với tác nhân vi sinh vật. Một nghiên cứu gần đây cho thấy sự kết hợp giữa phương pháp xử lý nhiệt với Bacillus amyloliquefaciens và sodium bicarbonate (2%) có hiệu quả kiểm soát nấm gây hư hỏng trên quýt (Hong et al. 2014). Trong nghiên cứu khác Metschnikowia pulcherrima mang đến hiệu quả cao trong ngăn sự phát triển bệnh Penicillium expansumBotrytis cinerea trên táo kết hợp vưới các tác nhân khác và phương pháp xử lý bằng nước nóng (Spadaro et al. 2004). Ứng dụng Cryptococcus laurentii cùng với phương pháp ngân nước nóng (30 giây) mang đến hiệu quả kiểm soát bệnh thối Rhizopus trên dâu tây cũng như duy trì chất lượng quả (Zhang et al. 2007).

Lớp phủ có thể ăn được như một sự thay thế cho quá trình bảo quản chất lượng trái cây cũng như tránh hình thành vi khuẩn trên bề mặt của nó (Aloui and Khwaldia 2016). Chitosan đã được sử dụng thành công để bảo quản chuối và có thể kết hợp với xử lý tinh dầu và xử lý với nước nóng. Sự kết hợp xử lý đã có thể ức chế hoàn toàn sự nảy mầm bào tử và sự phát triển của sợi nấm (Win et al. 2007).

Phương pháp hóa học

Để tối ưu hóa sản xuất lương thực, trong nhiều năm việc kiểm soát dịch bệnh sau thu hoạch chủ yếu dựa vào việc sử dụng phương pháp kiểm soát bằng hóa chất bằng cách sử dụng thuốc diệt nấm trên sản phẩm nông nghiệp để diệt trừ mầm bệnh (Singh and Sharma 2018). Điều quan trọng là nên xem xét trước khi lựa chọn và áp dụng phương pháp kiểm soát hóa chất hàng hóa cũng như mức độ phổ biến của mầm bệnh trong giai đoạn trước và sau thu hoạch theo điều kiện môi trường (Barkai-Golan 2001).

Mục tiêu chính của kiểm soát hóa học là để giảm hoặc ngăn sự hình thành và phân tán nấm (Carlile et al. 2001). Các phương pháp xử lý hóa học trước thu hoạch là lý tưởng nhất để kiểm soát các mầm bệnh có thể hình thành trên bề mặt các loại trái cây ở dạng nhiễm trùng để tránh sự nảy mầm bào tử và nhiễm nấm (Singh and Sharma 2018). Các mầm bệnh quan trọng như Colletotrichum gloeosporioidesLasiodiplodia theobromae gây bệnh thán thư và thối đầu thân rễ ở quýt được kiểm soát thành công bằng cách sử dụng benomyl, thiophanatemethyl, azoxystrobin, fludioxonil và pyraclostrobin (Zhang and Timmer 2007).

Xử lý azoxystrobin trước thu hoạch đã làm giảm tỷ lệ bệnh thán thư trên quả xoài ngay cả ở giai đoạn sau thu hoạch tăng cường năng xuất trái cây cũng như duy trì được chất lượng (Manasa et al. 2018). Việc sử dụng iprodione kết hợp với captan và thiram trên dâu tây có hiệu quả để kiểm soát Botrytis gây thối kéo dài thời hạn sử dụng của chúng (Blacharski et al. 2001). Hiệu quả xử lý và phòng ngừa của phương pháp xử lý hóa học và phương pháp ứng dụng rất quan trọng để lựa chọn phương án tốt nhất để kiểm soát bệnh sau thu hoạch. Một nghiên cứu chống lại Botrytis cinerea và các loại nấm khác chịu trách nhiệm phân hủy nho cho thấy các hoạt động của thuốc diệt nấm (boscalid, kresoxim-methyl và cyprodinil) được áp dụng bằng cách nhúng hoặc thả lắng (diệt nấm và phòng ngừa) hiệu quả nhất để kiểm soát nhiễm trùng bệnh (Serey et al. 2007).

Một số nghiên cứu báo cáo về tác dụng của thuốc diệt nấm, các vấn đề môi trường và sức khỏe dẫn đến việc tìm kiếm các lựa chọn thay thế cho ứng dụng của chúng trên một số loại trái cây và rau quả (Meier et al. 2015). Ngoài ra tình trạng kháng nấm đã được báo cáo, làm hạn chế khả năng sự kiểm soát của chúng. Thuốc diệt nấm azole được sử dụng rộng rãi trong các loại cây trồng khác nhau chống lại Aspergillus fumigatus; tuy nhiên ứng dụng của chúng thường xuyên trong nông nghiệp dẫn đến sự kháng thuốc do sự phơi nhiễm cao của một số diệt nấm trên một số mặt hàng (Berger et al. 2017). Trong trường hợp khác các chủng Botrytis cinerea phân lập từ các vườn nho cho thấy mức độ kháng thuốc khác nhau benzimidazoles, dicarboximides, anilinopyrimidines, succinate 15 dehydrogenase inhibitors, hydroxyanilides và phenylpyrroles. Bên cạnh đó trong nghiên cứu này, nhiều trường hợp kháng với thuốc diệt nấm đã được báo cáo, vì thế nghiên cứu các phương pháp xử lý thay thế cho xử lý diệt nấm để kiểm soát bệnh sau thu hoạch là cần thiết.

Kiểm soát bằng phương pháp sinh học

 Trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu và ngành công nghiệp hóa chất đang tìm kiếm các phương pháp thay thế thân thiện thay thế thuốc diệt nấm để kiểm soát mầm bệnh sau thu hoạch (Romanazzi et al. 2016). Chất kháng sinh có thể được phân lập từ các nguồn khác nhau và được tổng hợp nhân tạo từ một vài ứng dụng phụ thuộc vào phương pháp xử lý trái cây và rau củ (Sharma et al. 2009; Marín et al. 2017; Singh and Sharma 2018). Các tác nhân kháng khuẩn từ biển được báo cáo có tính kiểm soát sinh học rất tốt một số bệnh hại sau thu hoạch trên các loại trái cây khác nhau như chanh, xoài và cà chua cherry (Wang et al. 2008; Campos-Martínez et al. 2016; GonzálezEstrada et al. 2017b; Kong 2018). Trong các nghiên cứu gần đây về quả xoài được con người bổ sung thêm Colletotrichum gloeosporioides, có nhiều kết quả giảm bệnh thán thư bằng cách xử lý nhiều tác nhân kháng (vi khuẩn và nấm) từ môi trường biển, những vi sinh vật này có khả năng làm giảm đường kính tổn thương (92%) và tỷ lệ mắc bệnh (89%) (Hernandez Montiel et al. 2017).

Trong một số trường việc sử dụng cơ chất duy nhất nguồn gốc GRAS không hoàn toàn hiệu quả để ngăn nấm phát triển, trong trường hợp này việc bổ sung các chất kiểm soát sinh học vào công thức phủ có thể cải thiện hiệu quả của chúng. Một nghiên cức về quả đào và quả xuân đào (nectarine) bị nhiễm nấm Rhizopus stolonifer được kiểm soát thành công bằng cách xử lý kết hợp giữa CaCl2 (2% w/v) và nấm men Candida guilliermondiiPichia membranifaciens (Tian et al. 2002). Một phương pháp thú vị khác để kiểm soát bệnh sau thu hoạch là sử dụng chitosan, polymer sinh học này được sử dụng thành công trên một số lại trái cây để bảo vệ sau thu hoạch, chống nấm và khả năng tạo lớp phủ (El Ghaouth et al. 1992; Gutierrez-Martinez et al. 2018a, b). Tuy nhiên việc sử dụng chitosan chống lại nấm bệnh là không đủ trong một số trường hợp, sự kết hợp của chitosan với chất diệt khuẩn cho thấy một sự thay thế thành công để kiểm soát các mầm bệnh khác nhau như Penicillium expansum (táo), P. Digitatum (cam quýt), Botrytis cinereaP. expansum (táo) (El-Ghaouth et al. 2000; Yu et al. 2007; Waewthongrak et al. 2015).

Công nghệ nano: công cụ kiểm soát mầm bệnh sau thu hoạch trên trái cây

Các hạt nano được sử dụng trên một số loại nấm như Fusarium, Alternaria và Penicillium có kết quả tốt (bảng 15.1). Những thay đổi quan trọng trong cấu trúc nấm bằng hiệu ứng hạt nano (bảng 15.2). Việc sử dụng công nghệ nano trong giai đoạn sau thu hoạch có thể làm giảm thiệt hại và tổn thất do nấm (Singh và Rattanpal 2014). Một số nghiên cứu đã được báo cáo có hiệu quả tốt hơn thuốc diệt nấm tổng hợp hoặc các chất tự nhiên khi được xử lý ở kích thước nano vi bao (encapsulated) (kim loại, hữu cơ hoặc vô cơ), lợi ích này có liên quan đến do sự dễ dàng xâm nhập vào mầm bệnh cũng như kích thích chuyển hóa thứ cấp liên quan đến kiểm soát mầm bệnh (Hewett 2012, Panpatte et al. 2016). Có báo cáo về nano đồng, kẽm, lưu huỳnh và bạc có thể dễ dàng xâm nhập qua màng nấm và gây ra sự gia tăng hydro peroxide, gốc hydroxyl hoặc siêu peroxit, do đó ức chế hoạt động sinh lý phát triển và sinh sản lan rộng của nấm dẫn đến sự biến dạng sợi nấm (Esteban- Tejeda et al. 2009; Patra et al. 2013).

 

Thay thế hệ thống kiểm soát kết hợp với công nghệ nano để kiểm soát dịch bệnh sau thu hoạch

Tinh dầu cũng như chitosan được công nhận rộng rãi về khả năng kiểm soát một số mầm bệnh từ các loại trái cây khác nhau (Kong et al. 2010; Rabari et al. 2018; Sarkhosh et al. 2018). Tuy nhiên hiệu quả của chúng không đtạ 100% trong một số trường hợp, theo đó công nghệ nano là một công cụ cung cấp một sự thay thế mới cho những vật liệu nano phức tạp để cải thiện hoạt động của chúng (Duncan 2011).

Trong một nghiên cứu gần đây, các hạt nano chitosan đã thêm tinh dầu quế (Cinnamomum zeylanicum) và được đánh giá trong các thử nghiệm in vitro (trong ống nghiệm) và in vivo (trên tế bào) trên dưa chuột kháng Phytophthora drechsleri. Kết quả cho thấy hiệu quả của tinh dầu tốt hơn khi được kết hợp bởi các hạt nano chitosan trên tế bào và thử nghiệm trong ống nghiệm. Bệnh được kiểm soát hoàn toàn trên dưa chuột bị nhiễm, bên cạnh các lớp phủ còn duy trì được chất lượng hóa lý của dưa chuột giúp kéo dài thời gian sử dụng lên 21 ngày (Mohammadi et al. 2015a).

Ngay cả khi kết hợp vật liệu nano có thể cải thiện hiệu quả của một số hợp chất, trong nghiên cứu gần đây việc bổ sung đồng trong nano chitosan không gây thay đổi đáng kể nào được báo cáo trên vỏ quả dâu tây. Kết quả cho thấy hiệu quả tương tự đối với việc kiểm soát phân hủy và đánh giá chất lượng khi xử lý và không xử lý nano chitosan (Eshghi et al. 2014). Gần đây, ứng dụng hạt nano chitosan được thêm tinh dầu Zataria multiflora được đánh giá chống lại Botrytis cinerea (bệnh mốc xám) trên dâu tây.

Việc sử dụng kết hợp các vi khuẩn rhizobacteria thúc đẩy tăng trưởng thực vật (Pseudomonas fluorescens, Bacillus subtilis, Paenibacillus elgii, và Pseudomonas putida) với các hạt nano khác nhau (vàng, bạc và nhôm) có hiệu quả bằng cách cải thiện cây trông và tăng cường khả năng kháng tác nhân nấm gây hại (Gouda et al. 2017). Trong một nghiên cứu gần đây việc sử dụng các hạt nano chitosan và biocomposite chitosan chứa tinh dầu được phủ lên tinh dầu cây tiêu có hiệu quả trong thử nghiệm in vitro, cũng như có thể chữa và ngăn nhiễm nấm nhờ Colletotrichum gloeosporioides trong quả bở bằng cách ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của màng tế bào nấm, gây mất nước và độ cứng cũng giảm xuống (Chávez-Magdaleno et al. 2017; Chávez-Magdaleno et al. 2018a, b).

Lớp phủ nano pectin và chitosan được xử dụng trên xoài (Tommy Atkins) cho kết quả tốt, sự kết hợp đặc tính kháng khuẩn của chitosan cũng như tạo hàng rào cản của pectin tránh gây mất nước và tạo khả năng bảo vệ chống lại sự hư hỏng từ nấm tốt hơn, kéo dài thời gian bảo quản (Medeiros et al. 2012). Sự phát triển của nấm B. cinereaP. expansum trên táo bị ngăn chặn nhờ hiệu quả của curcumin được đóng gói bằng công nghệ nano (Yilmaz et al. 2016). Hỗn hợp dung dịch chitosan và hạt nano silicon oxide được sử dụng trên cherry Trung Quốc (Prunus pseudocerasus L.) giúp tránh mất nước, giảm tốc độ phân hủy và duy trì độ ẩm cho quả. Do đó phương pháp xử lý này được xem là lựa chọn để kéo dài thời gian sử dụng cho anh đào Trung Quốc tại giai đoạn sau thu hoạch (Xin et al. 2017).

Ưu điểm và hạn chế của ứng dụng công nghệ nano trên vấn đề phân hủy trái cây sau thu hoạch

Một số lớn các quốc gia đang phát triển dựa vào nền kinh tế sản xuất và xuất khẩu trái cây ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên một lượng rất lớn bị thất thoát do dịch bệnh, chủ yếu do nấm, gây nhiễm và làm giảm chất lượng trái cây (Mohamed et al. 2011). Do đó cần phải sử dụng thuốc diệt nấm trong giai đoạn trước và sau thu hoạch (Singh and Thakur 2005). Ngày nay đã có nhiều nhận thức về sự phát triển và nguy cơ gây ô nhiễm thuốc trừ sâu đến môi trường, sinh vật và nguy cơ sức khỏe con người do sử dụng quá nhiều hóa chất vượt ngưỡng giới hạn (Spalding 1982).

Thuật ngữ “Zero Residues” ngụ ý việc không sử dụng thuốc trừ sâu, chăm sóc trái đất và không gây hại đến sức khỏe cho người dân. Do đó việc sử dụng các hệ thống kiểm soát dựa trên sử dụng các chất có nguồn gốc động thực vật hoặc vi sinh vật có thể đảm bảo không gây hại và chất lượng cho xuất khẩu trái cây ra thị trường quốc tế.

Sử dụng các chất chuyển hóa từ vi sinh vật, tinh dầu, biopolymer như chitosan, chiết xuất thực vật, muối hữu cơ và vô cơ, axit hữu cơ và các chất khác đã chứng minh tính hiệu quả của chúng trong kiểm soát mầm bệnh sau thu hoạch và duy trì chất lượng của trái cây (Gutiérrez-Martínez et al. 2012, 2018b). Đồng thời một công nghệ mới nổi được phát triển, công nghệ nano tổng hợp vfa phát triển vật loại kim loại nano như đồng, bạc, kẽm và vàng (Basavaraj et al. 2012).

Công nghệ nano là một trong ngành học được cách mạng hóa một số lĩnh vực, một trong số là bệnh lý sau thu hoạch của trái cây và kiểm soát nấm gây bệnh thối quả ở trái cây nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới. Các hạt nano là một trong những công cụ đầy hứa hẹn làm tăng chức năng, hiệu quả của thuốc trừ sâu hóa học và kháng vi sinh có nguồn gốc sinh học haowjc tự nhiên, giúp giảm lượng sử dụng ở liều thấp hơn đáng kể, thời gian sử dụng dài hơn (Aloui and Khwaldia 2016).

Kết quả từ hạt nano kim loại rất hứa hẹn, đặc biệt ở cấp độ phòng thí nghiệm, tuy nhiên khi sử dụng thương mại thì nó phải được xem xét kỹ ở khía cạnh người tiêu dùng và pháp luật ở mỗi quốc giá, thành phần của màng ăn được phải có tiêu chuẩn thực phẩm và có giới hạn cho phép mà các cơ quan US EPA chấp thuận. Mức độ bạc tối đa trong nước là 0.1 mg/L và do đó sự hiện diện, nồng độ của chúng trong màng phủ ăn được để đạt được tính kháng khuẩn cũng phải xem xét tính an toàn, độc tính và tác động đến môi trường khi sử dụng nano kim loại (Chávez-Magdaleno et al. 2018a, b). Cần xem xét công nghệ nano là một lĩnh vực mới nổi có nhiều nghi vấn về tính chất chọn lọc của các hạt nano được thiết kế trước đó có gây ra rủi ro về sức khỏe hay không. Thông tin độc tính về vật liệu ở quy mô bình thường có thể làm cơ sở cho các ước tính sơ bộ độc tính hạt nano, nghiên cứu cấp độ ống nghiệm và tế bào (Sondi and Salopek-Sondi 2004).

Cuối cùng, một lượng lớn thông tin được tạo ra cho ứng dụng hạt nano trong khi chưa thể đưa ra xã hội do thiếu quy định phù hợp với việc sử dụng, người tiêu dùng có chấp nhận công nghệ mới này và ảnh hưởng đến môi trường (Kreyling et al. 2006). Thực tế này dẫn đến cần nhiều nghiên cứ trong lĩnh vực công nghệ nano về hạn mức an toàn trong sử dụng vật liệu, rủi ro vfa lợi ích của chúng đối với trái cây và rau quả sau thu hoạch.

Theo Amigos dịch

Tài liệu tham khảo: Chương 15: Nanotechnology: A Promising Alternative for the Control of Postharvest Pathogens in Fruits, Sách: Nanotechnology for Agriculture: Crop Production & Protection, tạp chí Springer, 2019.

 

tin tức liên quan

VFI 7-6 Lô B219A - B219B, Đường C, KCN Thái Hòa, Xã Đức Lập Hạ, Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An

support@tegox.vn

+84 272 249 6345